Những loại bệnh về xương khớp phổ biến nhất hiện nay

Các bệnh về xương khớp bạn cần biết

Bệnh xương khớp là bệnh lý khá phổ biến trên thế giới. Trước kia bệnh thường gặp ở người cao tuổi, những người thường xuyên mang vác nặng, nhưng hiện nay tỉ lệ mắc bệnh xương khớp ở người trẻ tuổi đã tăng lên đáng kể. Theo ước tính của ngành y tế, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc các bệnh xương khớp cao nhất thế giới. Trong những năm gần đây, tỉ lệ này đã tăng 20%. Thống kê cũng cho thấy cứ 10 người thì có 3 người mắc bệnh loãng xương.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, có khoảng 1,71 tỷ người mắc bệnh cơ xương khớp trên toàn thế giới. Do dân số gia tăng và già hóa nhanh nên số lượng người mắc các bệnh lý về xương khớp càng ngày càng gia tăng nhanh chóng. Các vấn đề xương khớp cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng sống chung với tàn tật nhiều năm liền (149 triệu người tàn tật, chiếm 17% số người tàn tật trên thế giới). Không những thế, tỷ lệ mắc các bệnh cơ xương khớp ở lứa tuổi thanh thiếu niên tăng cao so với trước đây.

1. Bệnh xương khớp là gì?

Bệnh xương khớp là các bệnh liên quan đến xương, các khớp nối, dây chằng, các đường gân hoặc cơ bắp. Bệnh cơ xương khớp có thể là cấp tính, có nghĩa là nó xảy ra đột ngột và nghiêm trọng. Hoặc cơn đau có thể là mạn tính (kéo dài). Tình trạng đau do bệnh xương khớp có thể là đau cục bộ ở một vùng trên cơ thể hoặc có thể ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.

2. Những bệnh xương khớp thường gặp là gì? Nguyên nhân gây bệnh?

Có nhiều các phân loại các bệnh cơ xương khớp theo các tiêu chuẩn khác nhau.

Theo WHO, bệnh lý cơ xương khớp bao gồm các tình trạng ảnh hưởng đến:

  • khớp: viêm khớp, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, bệnh gout, viêm cột sống dính khớp, …
  • xương: loãng xương, gãy xương, thiếu xương, …
  • cơ: chứng giảm co thắt (sarcopenia)
  • cột sống: đau lưng, đau gáy
  • bệnh hệ thống: rối loạn đau, lupus ban đỏ hệ thống, viêm mạch máu có biểu hiện cơ xương.

Trong đó, các bệnh xương khớp thường gặp phải kể đến:

2.1. Thoái hóa khớp

2.1.1. Thoái hóa khớp là gì?

Thoái hóa khớp (osteoarthritis) là bệnh lý phổ biến, thường xảy ra ở người cao tuổi. Những khớp chịu lực (ví dụ: khớp hông, khớp gối, cột sống) thường dễ bị ảnh hưởng nhất, ngoài ra các khớp khác cũng có thể bị ảnh hưởng (ví dụ: khớp cổ tay).

Thoái hóa khớp thường xảy ra ở những người lớn tuổi
Thoái hóa khớp thường xảy ra ở những người lớn tuổi

Đặc điểm của thoái hóa khớp là xuất hiện các hư hại tại khớp gây ra tình trạng đau nhức xương khớp, cứng khớp và hạn chế cử động. Triệu chứng cứng khớp có thể giảm khi vận động và xuất hiện lại khi nghỉ. Tình trạng cứng khớp có thể liên quan đến thời tiết, thường kéo dài ít hơn 30 phút sau khi không cử động thời gian dài. Tình trạng viêm thường nhẹ hoặc không có. Thoái hóa khớp thường ảnh hưởng đến một hoặc nhiều khớp và thường bất đối xứng.

Các khớp thường liên quan đến bệnh thoái hóa khớp gồm: khớp liên đốt xa, liên đốt gần ngón tay, khớp gốc ngón tay cái, khớp hông, khớp gối, khớp đốt sống cổ-lưng, khớp gốc ngón chân cái.

2.1.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Có nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng thoái hóa khớp điển hình như phá hủy sụn khớp, dày xương dưới sụn và bao khớp, tái cấu trúc xương, hình thành chồi xương hay gai xương, viêm màng hoạt dịch và những thay đổi bất thường khác.

Yếu tố nguy cơ gây thoái hóa khớp được chia làm hai loại: yếu tố cơ thể (cân nặng, tuổi tác) và yếu tố sinh học (chấn thương, nghề nghiệp).

  • Tuổi cao là yếu tố tiên lượng rõ thoái hóa khớp nhưng không phải tất cả những người cao tuổi đều bị thoái hóa khớp. Thừa cân gây tặng áp lực lên các khớp chịu lực (như khớp hông, khớp gối) – các khớp dễ bị thoái hóa, làm nguy cơ thoái hóa tăng lên 10% so với người có cân nặng bình thường. Nữ giới, đặc biệt đối tượng trên 45 tuổi có nguy cơ bị thoái hóa khớp cao hơn nam giới.
  • Các khớp sẽ trở nên nhạy cảm hơn nếu có chấn thương trước đó. Các hoạt động thường ngày vẫn có thể gây thoái hóa ở đối tượng đã từng có chấn thương, trong khi khả năng này ở người không có chấn thương trước đó rất ít. Hoạt động thể chất cường độ nặng là yếu tố tiên lượng thoái hóa khớp rõ hơn so với cường độ từ nhẹ đến vừa, đặc biệt trên đối tượng người cao tuổi khi cấu trúc khớp không còn khả năng chịu được cường độ nặng.

2.2. Viêm khớp dạng thấp

2.2.1. Bệnh viêm khớp dạng thấp là gì?

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý viêm mô hoạt dịch ở khớp kép dài, gây ăn mòn xương, phá hủy sụn và mất toàn bộ cấu trúc của khớp. Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý khớp di viêm phổ biến nhất, thường gặp ở người lớn (0.5-1% dân số trưởng thành). Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở độ tuổi từ 25 đến 55 tuổi, bình nguyên đến 75 tuổi và sau đó giảm dần. Tỷ lệ phụ nữ bị bệnh nhiều hơn nam giới từ hai đến ba lần. Trong vòng 3 năm sau khi chẩn đoán bệnh, nếu không điều trị, bệnh gây ra tàn tật vĩnh viễn và mất sức lao động khoảng 20-30% tổng số bệnh nhân.

Viêm khớp dạng thấp thường xảy ra ở khớp nhỏ trước
Viêm khớp dạng thấp thường xảy ra ở khớp nhỏ trước

2.2.2. Biểu hiện của bệnh viêm xương khớp dạng thấp

Khởi đầu của biểu hiện viêm khớp dạng thấp là tình trạng cứng xương khớp vào buổi sáng (thường trên 1 giờ) và giảm dần khi vận động. Các khớp dễ biểu hiện bệnh nhất là các khớp nhỏ bàn tay, bàn chân, tình trạng sưng, đau có tính đối xứng. Các triệu chứng tại khớp có thể đi kèm các triệu chứng khác như ăn không ngon, yếu, mệt, sốt nhẹ.

Sau đó, tình trạng viêm sẽ lan đến các khớp khác như khớp khuỷu tay, khớp bàn ngón và viêm khớp ngón tay, gây biến dạng khớp không hồi phục do phá hủy mô: biến dạng cổ thiên nga, biến dạng boutonniere, biến dạng chữ Z, bàn chân bẹt,… Các khớp bị bệnh thường sưng, đau khi sờ, nóng nhưng không đỏ da vùng khớp bệnh.

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể xuất hiện nhiều biến chứng trên nhiều cơ quan khác nhau như:

  • Thiếu máu (khoảng 75% trường hợp có thiếu máu mạn tính)
  • Biến chứng trên tim: viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim
  • Biến dạng khớp, xuất hiện các nốt thấp – những cục nhỏ dưới da trên các vùng xương.
  • Nhiễm trùng
  • Viêm mạch máu, có thể dẫn đến tổn thương ở thần kinh, da và cơ quan khác
  • Ung thư

2.2.3. Nguyên nhân

Nguyên nhân bệnh viêm xương khớp dạng thấp cho đến nay chưa được biết rõ. Có nhiều bằng chứng cho thấy có sự tác động qua lại rất phức tạp giữa yếu tố di truyền, yếu tố môi trường và yếu tố miễn dịch. Sự tác động qua lại này dẫn đến sự rối loạn hệ điều hòa miễn dịch và phá vỡ sự dung nạp tự thân.

Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm khớp dạng thấp bao gồm:

  • Nữ giới
  • Tiền sử gia đình có người bị viêm khớp dạng thấp
  • Lớn tuổi
  • Hút thuốc lá
  • Uống cà phế nhiều hơn 3 ly mỗi ngày (đặc biệt là cà phê đã được loại bỏ thành phần caffein).

2.3. Gout

2.3.1. Bệnh gout là gì?

Bệnh gout hay thống phong là tình trạng viêm khớp do lắng đọng tinh thể mononatri urat tại khe khớp hoặc mô xung quanh, dẫn đến phản ứng viêm và gây sưng đau dữ dội.

Bệnh gout xảy ra do những bất thường trong chuyển hóa và đào thải acid uric. Độ tan của acid uric liên quan đến nồng độ acid uric trong máu và nhiệt độ của cơ thể. Ở điều kiện nồng độ cao và nhiệt độ thấp, acid uric kết tinh thành các tinh thể urat, các tinh thể này tích tụ và lắng đọng tại khác khe khớp xa như khớp ngón chân. Bệnh nhân bị gout từ 10 năm trở lên có thể xuất hiện hạt tophy trên da (tinh thể urat lắng đọng ở mô mềm).

Chân bị sưng đỏ do gout
Chân bị sưng đỏ do gout

2.3.2. Triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gout hầu như luôn xảy ra đột ngột và thường xảy ra vào ban đêm, bao gồm:

  • Đau khớp dữ dội: Bệnh gout thường ảnh hưởng đến ngón chân cái, nhưng nó cũng có thể xảy ra ở bất kì khớp nào khác như: mắt cá chân, đầu gối, khuỷu tay, cổ tay và đau khớp ngón tay cái. Cơn đau có thể trở nên nghiêm trọng nhất trong vòng 6 đến 12 giờ kể từ khi bắt đầu.
  • Khó chịu kéo dài: Sau khi cơn đau nghiêm trọng nhất giảm bớt, một số khó chịu ở khớp có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tuần. Sau này, các cơn đau có khả năng kéo dài hơn và ảnh hưởng đến nhiều khớp hơn.
  • Viêm và sưng đỏ: Khớp bị ảnh hưởng sẽ trở nên sưng, mềm, nóng và đỏ.
  • Giới hạn cử động: Lâu dài, các khớp của bệnh nhân có thể cử động không bình thường hoặc khó cử động hơn.

Tại Việt Nam, một nghiên cứu năm 2003 ước tính tần suất mắc bệnh gout ở khu đô thị là 0.14%. Bệnh nhân bệnh gout có lượng mỡ cao (đặc biệt vùng bụng) và có hội chứng chuyển hóa (gồm béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tăng đường huyết) nhiều hơn so với người khỏe mạnh. Tần suất mắc bệnh gout tăng theo độ tuổi và tỷ lệ ở nam cao hơn nữ từ 3 đến 4 lần.

2.3.3. Yếu tố nguy cơ

Có nhiều yếu tố làm tăng nồng độ acid uric trong cơ thể dẫn đến gout, gồm:

  • Chế độ ăn: Ăn một chế độ ăn có nhiều thịt đỏ (thịt bò, thịt heo, …) và động vật có vỏ (tôm, cua, sò, …), uống đồ uống có nhiều đường fructose (siro bắp, mất ong, nước ngọt) làm tăng nồng độ acid uric trong máu. Uống rượu, bia làm giảm đào thải acid uric cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gout.
  • Tuổi và giới tính: Bệnh gout thường xảy ra ở nam giới. Tuy nhiên sau mãn kinh, nồng độ acid uric của nữ gần tương đương với nam giới.
  • Hội chứng chuyển hóa, gồm: béo phì, tăng huyết áp, tăng đường huyết, rối loạn lipid máu.
  • Một số thuốc: thuốc lợi tiểu quai, thuốc lợi tiểu thiazid, niacin, pyraziamid, aspirin liều thấp, levodopa, …

2.4. Loãng xương

2.4.1. Loãng xương là gì?

Loãng xương là tình trạng rối loạn chuyển hóa của xương dẫn đến tổn thương độ chắc của xương, làm tăng nguy cơ gãy xương. Độ chắc của xương khớp bao gồm sự toàn vẹn cả về khối lượng và chất lượng của xương.

Khối lượng xương được biểu hiện bằng:

  • Mật độ khoáng chất của xương
  • Khối lượng xương

Chất lượng của xương phụ thuộc vào:

  • Thể tích xương
  • Vi cấu trúc của xương (Thành phần chất nền và chất khoáng của xương)
  • Chu chuyển xương (Tình trạng tổn thương vi cấu trúc xương, tình hình sửa chữa cấu trúc của xương)

Loãng xương làm cho xương trở nên yếu và giòn, dễ gãy, đến nỗi ngã nhẹ, hoặc thực hiện các động tác như cúi gập người hay ho cũng có thể gây ra gãy xương. Gãy xương liên quan đến loãng xương thường gặp nhất ở hông, cổ tay hoặc cột sống.

Loãng xương là bệnh ảnh hưởng đến cả nam giới và nữ giới ở mọi chủng tộc. Phụ nữ da trắng và phụ nữ Châu Á, đặc biệt là phụ nữ đã qua thời kì mãn kinh có nguy cơ mắc bệnh cao nhất. Ở Việt Nam, một nghiên cứu dịch tễ học cho thấy khoảng 20% phụ nữa trên 60 tuổi có triệu chứng của loãng xương.

Ở giai đoạn đầu của quá trình mất xương thường không có biểu hiện rõ ràng, có một số biểu hiện cho thấy xương bạn đang suy yếu do loãng xương, gồm:

  • Đau lưng, đau xương, cột sống gãy hoặc xẹp.
  • Mất chiều cao theo thời gian.
  • Biến dạng cột sống: gù, vẹo cột sống.
  • Xương dễ gãy hơn bình thường.

2.4.2. Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây ra loãng xương là do rối loạn cân bằng giữa hai quá trình hủy xương và tạo xương của cơ thể. Trong khi quá trình tạo xương chậm lại do tuổi tác hoặc các yếu tố khác thì quá trình hủy xương lại diễn ra nhanh hơn khiến xương trở nên mỏng, giòn, xốp và dễ gãy. Dưới đây là các yếu tố làm tăng khả năng bị loãng xương:

Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi:

  • Giới tính
  • Tuổi
  • Chủng tộc
  • Tiền sử gia đình
  • Kích thước khung xương

Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:

  • Các loại thuốc như corticosteroid (prednisolone, cortisone), thuốc chống đông (heparin, warfarin); thuốc chống động kinh (phenytoin, phenobarbital), thuốc độc tế bào (methotrexat, cisplatin), …
  • Các tình trạng – bệnh lý: nghiện rượu, hút thuốc lá, bệnh thận mạn, thiếu vitamin D; ghép tạng, bệnh phối tắc nghẽn mạn tính (COPD), đái tháo đường, rối loạn ăn uống; rối loạn tiêu hóa (cắt dạ dày, hội chứng kém hấp thu), ….
  • Lối sống ít vận động.

3. Cách phòng ngừa bệnh xương khớp để có một xương khớp khỏe mạnh

Bệnh xương khớp gây ra nhiều khó khăn trong hoặt động hàng ngày cũng như làm giảm chất lượng sống của người bệnh. Dưới đây là các biện pháp phòng trách các bệnh xương khớp hiệu quả:

3.1. Duy trì cân nặng khỏe mạnh

Trọng lượng cơ thể tăng quá cao là gánh nặng cho xương khớp. Nó có thể làm dâu hông, viêm khớp đầu gối, viêm khớp cổ chânđau bàn chân. Lượng mỡ tăng cũng làm tăng acid uric trong máu, tăng nguy cơ mắc bệnh gout.

Tuy nhiên, thiếu cân làm tăng nguy cơ mất xương cũng làm khả năng mắc bệnh loãng xương cao hơn người bình thường.

3.2. Tập thể dục điều độ

Tập thể dục có thể giúp bạn có hệ thống xương khớp chắc khỏe; tăng khả năng tạo xương cũng như làm chậm quá trình mất xương của cơ thể. Tập thể dục có lợi cho bạn bất kể khi nào, nhưng tốt nhất hãy bắt đầu khi còn trẻ và duy trì tập thể dục trong suốt cuộc đời.

Các bài tập rèn luyện sức bền: đi bộ, chạy bộ, nhảy dây; leo cầu thang có lợi cho xương khớp ở chân, hông và xương sống. Các bài tập nâng tạ, hít xà đơn tăng cường cơ bắp ở cánh tay, ngực, vai. Các bài tập thăng bằng như thái cực quyền làm giảm nguy cơ ngã; đặc biệt có lợi cho đối tượng người cao tuổi. Sẽ là tốt nhất nếu kết hợp các bài tập một cách hợp lí và duy trì thường xuyên, đều đặn.

3.3. Chế độ dinh dưỡng cho bệnh xương khớp

Calci

Nam giới và phụ nữ tuổi từ 18 -50 cần 1 gam calci mỗi ngày, 1.2 gam mỗi ngày khi phụ nữ bước sang tuối 50 và đàn ông bước sang tuổi 70. Bổ sung calci vừa đủ và kịp thời giúp làm chậm quá trình hủy xương, giúp xương chắc khỏe hơn. Tuy nhiên, nếu bổ sung quá nhiều calci có thể dẫn đến các bệnh liên quan đến chức năng thận, tim mạch. Tổng lượng calci cung cấp cho cơ thể không nên quá 2 gam mỗi ngày đối với người trên 50 tuổi.

Các nguồn calci tốt bao gồm:

  • Các sản phẩm từ sữa ít béo
  • Rau xanh lá đậm
  • Cá hồi đóng hộp hoặc cá mòi nguyên xương
  • Các sản phẩm từ đậu nành
  • Ngũ cốc tăng cường calci

Vitamin D

Vitamin D giúp cải thiện hấp thu calci của cơ thể và cải thiện sức khỏe của xương. Nguồn vitamin D có thể đến từ ánh sáng mặt trời hoặc các sản phẩm vitamin tổng hợp.

Bên cạnh đó cũng có các thực phẩm không có lợi cho bệnh xương khớp phải kể đến: rượu bia, thuốc lá, các đồ uống đóng hộp, …

3.4. Kiểm soát lượng đường trong máu

Bệnh tiểu đường có thể là một yếu tố nguy cơ đáng kể để các bệnh viêm xương khớp phát triển. Mức đường huyết tăng cao làm tăng tốc độ hình thành các phân tử làm cứng sụn; bệnh tiểu đường cũng có thể gây ra tình trạng viêm dẫn đến dẩy nhanh quá trình mất sụn. Kiểm soát bệnh tiểu đường và điều chỉnh mức đường huyết của bạn có thể giúp ngăn ngừa viêm khớp.

3.5. Chế độ làm việc

Những công việc liên quan đến nhiều chuyển động lặp đi lặp lại có thể gây khó khăn cho xương khớp.

Không nên đứng hoặc ngồi quá lâu, điều này ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng của xương khớp; nên vận động nhẹ hoặc thay đổi tư thế một tiếng một lần. Các vật dụng như: bàn, ghế, máy tính, điện thoại nên được sắp xếp một cách khoa học; và hợp lí để xương khớp chúng ta có thể thoải mái khi làm việc.

Bài viết trên đã cung cấp kiến thức về bệnh lý xương khớp nói chung và các bệnh xương khớp thường gặp. Mong rằng mỗi chúng ta hay luôn cập nhật kiến thức cho chính bản thân để có một hệ xương khớp chắc khỏe, một sức khỏe dẻo dai và một cuộc sống chất lượng.

Xem thêm bài viết liên quan:

Bệnh viêm đa khớp nên ăn gì và kiêng gì?

Viêm khớp dạng thấp có chữa khỏi được không?

0/5 (0 Reviews)
Những loại bệnh về xương khớp phổ biến nhất hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chuyển lên trên
AllEscort