Thoái hóa khớp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Thoái hóa khớp (Osterarthritis) là bệnh lý phổ biến nhất hiện nay. Trên thế giới có khoảng hơn 300 triệu người bị thoái hóa khớp. Ở người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên, khoảng 10% nam giới và 18% nữ giới được chẩn đoán mắc bệnh thoái hóa khớp. Số lượng người bị ảnh hưởng bởi viêm khớp có triệu chứng sẽ tăng lên do dân số già và bệnh béo phì.

1. Thoái hóa khớp là gì?

Khớp là nơi hai xương tiếp xúc với nhau, sụn khớp bọc lấy phần đầu xương và tiếp xúc với khoang hoạt dịch. Sụn khớp trơn và có tính đàn hồi cao, có vài trò trong bôi trơn khi khớp cử động, giảm áp lực lên khớp khi vận động nhanh và mạnh. Ở người trưởng thành, sụn không có mạch máu, các tế bào sụn lấy dinh dưỡng chủ yếu từ dịch khớp. Khi các khớp vận động, chất dinh dưỡng sẽ được cung cấp cho sụn.

Thoái hóa khớp xảy ra khi các lớp sụn này bị hao mòn hoặc phá vỡ hoàn toàn; khiến các đầu xương không có gì bảo vệ, tiếp xúc trực tiếp với nhau tạo ra các gai xương. Điều này làm cho khớp không còn linh hoạt trong cử động cũng như gây đau đớn. Những thay đổi này thường phát triển chậm cũng như khó phát hiện ở giai đoạn đầu.

"<yoastmark

2. Triệu chứng của bệnh thoái hóa khớp?

Thoái hóa khớp có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi; nhưng nó thường bắt đầu ở người từ 50 tuổi trở lên. Triệu chứng bệnh ở giai đoạn đầu thường không rõ ràng. Các triệu chứng chính liên quan đến đau, cứng khớp (đặc biệt trong thời gian ngắn khi không cử động) và hạn chế cử động. Một số người cũng có các triệu chứng như: sưng tấy, đau nhức; tiếng kêu răng rắc khi cử động tại các khớp ảnh hưởng. Tuy nhiên tình trạng viêm thường nhẹ hoặc không có (khác với bệnh gout hay viêm khớp dạng thấp).

Khi bệnh tiến triển, cơn đau có thể kéo dài, ngay cả khi không hoạt động. Triệu chứng cứng khớp có thể giảm khi vận động và xuất hiện trở lại khi nghỉ ngơi. Cứng khớp cũng có thể do thời tiết (khi nhiệt độ xuống thấp); thường kéo dài ít hơn 30 phút sau khi không cử động trong thời gian dài.

Khác với viêm khớp dạng thấp (RA) có tính đối xứng, xuất hiện ở khớp từ nhỏ tới lớn, thoái hóa khớp thường xảy ra ở một hay nhiều khớp và bất đối xứng. Hầu hết mọi khớp đều có thể bị ảnh hưởng, nhưng tình trạng này thường gây ra các vấn đề ở khớp gối; khớp hông, khớp đốt sống cổ – lưng, các khớp liên đốt xa, liên đốt gần của ngón tay, …

Thăm khám khớp có thể thấy tình trạng sưng khớp; phần lồi do gai xương, tiếng lục cục khi cử động, teo cơ; giới hạn cử động và tràn dịch.

Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng này có thể rất khác nhau ở mỗi người và ở các khớp khác nhau. Đối với một số người, triệu chứng có thể nhẹ, cơn đau đến rồi biến mất. Nhưng cũng có nhiều người gặp những vấn đề liên tục và nghiêm trọng hơn; thậm chí có thể bị tàn tật suốt đời do thoái hóa khớp.

3. Nguyên nhân gây bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp được phân làm hai loại: nguyên phát (vô căn) và thứ phát. Thoái hóa khớp nguyên phát xảy ra khi không biết rõ nguyên nhân; có thể xảy ra ở một khớp hoặc nhiều khớp, bào mòn khớp (thường xảy ra ở khớp tay, khớp chân, …). Thoái hóa khớp thứ phát thường xảy ra do bẩm sinh hoặc do rối loạn liên quan đến quá trình phát triển; viêm, chuyển hóa hoặc do bệnh nội tiết.

Bên cạnh đó, chấn thương cũng là một nguyên nhân rất thường gặp của căn bệnh này. Khoảng 12 % các trường hợp thoái hóa khớp bắt nguồn từ chấn thương từ nhiều năm hoặc thậm chí cả thập kỷ trước đó. Chấn thương làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp do nó có thể gây ra tổn thương sụn vĩnh viễn; đẩy nhanh quá trình thoái hóa, làm tổn thương các mô hỗ trợ xung quanh khớp khiến khả năng chịu đựng của khớp giảm sút.

Các chấn thương phổ biến phải kể tới: rách sụn, trật khớp, bong gân, chấn thương dây chằng, … Các chấn thương này có thể xuất hiện do tai nạn giao thông; các chấn thương trong thể thao, …

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ tiến triển của bệnh thoái hóa khớp bao gồm:

3.1. Tuổi tác

Thoái hóa khớp là một vấn đề về khớp rất phổ biến ở người cao tuổi. Hầu hết mọi người sẽ xuất hiện các triệu chứng của viêm khớp khi họ 70 tuổi. Tuổi càng cao, các cơ quan hoạt động kém hơn bình thường; khả năng tái tạo sụn khớp cũng giảm đi rất nhiều và dễ dẫn đến bệnh thoái hóa khớp hơn.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa thoái hóa khớp chỉ giới hạn ở người cao tuổi. Hiện nay, tỉ lệ các bệnh xương khớp nói chung và thoái hóa khớp nói riêng đã tăng lên ở người trẻ tuổi. Những người trẻ tuổi có nhiều khả năng bị thoái hóa khớp do hậu quả trực tiếp của chấn thương.

3.2. Giới tính

Nhìn chung, phụ nữ mắc các bệnh về xương khớp cũng như có các triệu chứng tiến triển của thoái hóa khớp nhiều hơn nam giới. Đặc biệt sau 55 tuổi, phụ nữ có khả năng bị thoái hóa khớp cao hơn nam giới cùng tuổi. Khi phụ nữ ở tuổi mãn kinh, estrogen suy giảm làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối vì estrogen có tác dụng bảo vệ sức khỏe của xương; đặc biệt làm giảm sự oxy hóa sụn khớp.

3.3. Công việc

Trong một số trường hợp, công việc bạn làm cũng như những thói quen của bạn có thể dẫn đến thoái hóa khớp. Những người thực hiện một số hoạt động nhất định (như lao động thể chất; quỳ, ngồi xổm, leo cầu thang) trong nhiều giờ liền có thể dễ bị đau khớp và cứng khớp; các cử động lặp đi lặp lại tại các khớp cũng có thể khiến sụn bị mòn sớm. Các khớp thường bị ảnh hưởng gồm: khớp tay, viêm khớp gối, khớp hông.

Công việc có tính chất ngồi nhiều cũng ảnh hưởng đến xương khớp
Công việc có tính chất ngồi nhiều cũng ảnh hưởng đến xương khớp

3.4. Cân nặng

Thoái hóa khớp có thể ảnh hưởng đến tất cả mọi người ở các lứa tuổi, giới tính, cân nặng khác nhau. Tuy nhiên, nguy cơ tiến triển bệnh nhanh hơn khi bệnh nhân bị thừa cân. Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa viêm khớp và thừa cân. Khi bạn đi bộ, một lực gấp sáu lần trọng lượng cơ thể của bạn sẽ tác động lên đầu gối. Đồng nghĩa với việc trọng lượng cơ thể tăng lên là các khớp phải chịu tải trọng lớn hơn bình thường rất nhiều lần. Đó có thể là lí do giải thích cho việc tại sao phụ nữ thừa cân có nguy cơ bị thoái hoá khớp cao gấp 4 lần phụ nữ bình thường; con số này ở nam giới là 5 lần.

3.5. Các hội chứng chuyển hóa khác

Bệnh tiểu đường và chứng rối loạn lipid huyết đều góp phần vào phản ứng viêm trong cơ thể; làm tăng nguy cơ viêm xương khớp. Quá trình oxy hóa lipid cũng có thể tạo ra các chất lóng đặng trong sụn; ảnh hưởng đến lưu lượng máu của xương dưới sụn. Lượng đường trong máu cao cũng như cholesterol tăng cao làm tăng các gốc tự do trong cơ thể; quá trình oxy hóa xảy ra liên tục vượt quá khả năng phục hồi của sụn khớp làm phá hủy sụn khớp.

4. Thoái hóa khớp có nguy hiểm hay không?

Thoái hóa khớp là bệnh lý xương khớp phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. Các xương dần suy giảm chức năng cũng như độ linh hoạt theo thời gian. Nếu không được điều trị, các cơn đau mạn tính do thoái hoá khớp có thể dẫn đến cá biến chứng và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.

Đối với nhiều người, thoái hóa khớp là nguồn gốc của những cơn đau mạn tính khiến cơ thể mệt mỏi và suy nhược. Thoái hóa khớp cũng có thể dẫn đến các vấn đề về lo lắng và trầm cảm. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh CDC; người lớn bị thoái hóa khớp có nguy cơ bị ngã hoặc chấn thương cao hơn 2,5 lần. Ngoài việc gây đau, thoái hóa khớp còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bạn:

4.1. Gián đoạn giấc ngủ

Đau nhức làm bạn bị thức giấc giữa đêm; ngủ không đủ giấc có thể làm cơn đau do thoái hóa khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Căng cứng khớp cũng như hạn chế cử động tại khớp khiến bạn không thoải mái khi nằm trên giường.

4.2. Ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày

Nhiều người không thể làm việc khi có các cơn đau do thoái hóa khớp; các hoạt động thường ngày cũng khó thực hiện hơn như: dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng, tự mặc quần áo; tập thể dục và các hoạt động khác. Khi bệnh thoái hóa khớp tiến triển và trở nên nghiêm trọng hơn; bệnh nhân thậm chí không thể tự mình đi lại; vệ sinh cá nhân mà phải nhờ đến sự giúp đỡ của các dụng cụ hỗ trợ cũng như của người khác trong gia đình.

4.3. Tăng cân

Đau và cứng khớp làm bạn không muốn hoạt động; các hoạt động tập thể dục như đi bộ hàng ngày trở nên khó khăn hơn. Việc lười vận động không chỉ khiến bệnh thoái hóa khớp trở nên nghiêm trọng hơn và còn có thể gây tăng cân. Béo phì sẽ làm trầm trọng hơn triệu chứng của thoái hóa khớp cũng như làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng khác; bao gồm: bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, các bệnh liên quan đến tim mạch.

4.4. Lo lắng và trầm cảm

Một nghiên cứu năm 2010 đã tìm ra mối liên hệ giữa sự lo lắng, trầm cảm và bệnh này. Nghiên cứu cho biết các cơn đau do thoái hóa khớp ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của người bệnh. Hơn 40% những người tham gia nghiêm cứu cho thấy sự lo lắng, trầm cảm gia tăng do các triệu chứng của tình trạng này.

4.5. Các biến chứng khác

Các biến chứng khác phát sinh có liên quan đến xương khớp phải kể tới:

  • Sự phân hủy hoàn toàn và nhanh chóng của sụn có thể dấn đến làm lỏng lẻo các khớp
  • Hoại tử xương
  • Gãy xương
  • Chảy máu hoặc nhiễm trùng ở khớp
  • Thoái hóa hoặc đứt gân và dây chằng quanh khớp, dẫn đến sự mất ổn định
  • Trong thoái hóa khớp cột sống, các dây thần kinh có thể bị chèn ép

5. Những ai dễ mắc bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là bệnh bất kì ai cũng có thể mắc phải; tuy nhiên có những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn phải kể đến:

  • Người từ 60 tuổi trở lên
  • Phụ nữ
  • Người châu Á
  • Người có những công việc đặc thù: nông dân, vận động viên,
  • Người đã từng có chấn thương liên quan như: trật khớp, gãy xương, …

6. Điều trị bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là một tình trạng lâu dài và không thể chữa khỏi; nhưng chúng ta có thể khiến bệnh không trở nên tồi tệ hơn theo thời gian và thậm chí là cải thiện dần dần. Tùy theo mức độ cũng như triệu chứng của mỗi người mà ta sẽ có nhưng hướng điều trị và phương pháp điều trị khác nhau. Mục tiêu điều trị chung của bệnh thoái hóa khớp bao gồm:

  • Giảm đau
  • Duy trì hoặc phục hồi chức năng vận động của khớp
  • Giảm thiểu các tổn hại đến chức năng của khớp và các biến chứng khác
  • Bảo tồn khớp, ngăn ngừa biến dạng khớp
  • Cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh

Có ba hướng điều trị chính đó là: điều trị không dùng thuốc, điều trị bằng thuốc và phẫu thuật. Trong nhiều trường hợp, có thể phối hợp các phương pháp điều trị để đạt được hiệu quả tốt nhất.

6.1. Điều trị không dùng thuốc

Các biện pháp điều trị không dùng thuốc được coi là nền móng trong điều trị thoái hóa khớp; phải kể tới: tập thể dục, giảm cân, vật lí trị liệu, thay đổi suy nghĩ, lối sống lành mạnh.

6.1.1. Tập thể dục

Nên tập thể dục thường xuyên để tránh tình trạng thoái hóa khớp
Nên tập thể dục thường xuyên để tránh tình trạng thoái hóa khớp

Tập thể dục là phương pháp điều trị không thể thiếu trong kế hoạch điều trị thoái hóa khớp; bất kể độ tuổi hay mức độ thể chất của bạn. Tuy nhiên không nên lạm dụng tập thể dục quá mức hay tập sai các động tác sẽ khiến các triệu chứng thoái hóa khớp trở nên trầm trọng hơn. Người bị thoái hóa khớp được khuyên nên tập thể dục khoảng 150 phút một tuần với những bài tập mức độ vừa phải đến mạnh. Các bài tập nên được kết hợp bao gồm:

  • Các bài tập tăng cường sức mạnh (đi bộ) giúp tạo ra cơ bắp ở xung quanh các khớp bị đau và làm giảm bớt căng thẳng cho chúng.
  • Các bài tập giãn cơ (yoga, bơi lội) giúp tăng khả năng vận động giúp giảm độ cứng và tăng độ dẻo dai cho các khớp.
  • Các bài tập aerobic hoặc tim mạch giúp cải thiện sức chịu đựng và giảm cân hiệu quả.
  • Các bài tập thăng bằng giúp tăng cường các cơ nhỏ quanh đầu gối và mắt cá chân giúp ngăn ngừa té ngã. Hội Khớp Hoa Kỳ khuyến cáo bệnh nhân thoái hóa khớp nên luyện tập thái cực quyền hay dưỡng sinh – những bài tập giữ thăng bằng vô cùng hiệu quả.

Bác sĩ hay một nhà vật lý trị liệu của bạn sẽ đưa ra những lợi ích mà bạn có thể đạt được cũng như một kế hoạch tập luyện cụ thể để bạn có thể theo dõi tại nhà. Điều quan trọng là bạn phải tuân theo kế hoạch này vì tập thể dục quá nhanh hoặc tập sai cách sẽ làm hỏng khớp của bạn.

6.1.2. Giảm cân

Cân nặng vượt mức bình thường sẽ làm tăng thêm căng thẳng cho hông, đầu gối, bàn chân và lưng. Giảm cân giúp giảm đau và ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình tổn thương khớp. Bệnh nhân béo phì giảm được 5% cân nặng có thể cải thiện được tình trạng thoái hóa khớp; nhưng hiệu quả chỉ rõ ràng khi giảm được ít nhất 10% cân nặng. Giảm cân có thể thực hiện thông qua việc điều chỉnh chế độ ăn và tăng cường hoạt động thể chất.

6.1.3. Các liệu pháp vật lí khác

Bệnh nhân có thể dùng dụn cụ hỗ trợ đi lại (như gậy, nạng, nẹp, đai) để giảm áp lực lên các khớp bị thoái hóa. Đai hỗ trợ gối được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối nặng. Chườm nóng hoặc chườm lạnh có thể giúp giảm đau, cải thiện cử động và giảm chứng co cứng khớp. Châm cứu cũng là một biện pháp có thể hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp khá hiệu quả.

6.2. Điều trị bằng thuốc

Thuốc giảm đau và kháng viêm cho thoái hóa xương khớp có sẵn dưới dạng thuốc viên uống; si rô, miếng dán, kem bôi, hoặc dạng tiêm dùng để tiêm vào khớp. Loại thuốc giảm đau mà bạn sử dụng sẽ tùy vào mức độ nghiêm trọng của cơn đau và các triệu chứng cụ thể khác mà bạn đang có. Đôi khi cũng có thể kết hợp các phương pháp khác nhau nhằm tăng hiệu quả điều trị và kiểm soát cơn đau tốt hơn. Một số loại thuốc thường được sử dụng:

6.2.1. Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID)

NSAID là thuốc giảm đau hoạt động bằng cách giảm triệu chứng viêm. Một số NSAID dạng dùng ngoài thể cho tác dụng giảm đau tương đương dạng uống nhưng có ít tác dụng không mong muốn hơn dạng uống (ví dụ diclofenac gel). Chính vì thế, NSAID dạng dùng ngoài là lựa chọn đầu tay cho bệnh nhân bị thoái hóa khớp ở các khớp lộ diện như: ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối, mắt cá chân hoặc ngón chân.

Trong trường hợp vị trí thoái hóa là những khớp không lộ diện như khớp hông; khớp vai hay đốt sống hoặc khi bệnh nhân dùng NSAID dùng ngoài không đủ giảm đau; có thể cân nhắc dùng NSAID dạng uống. Không nên dùng NSAID cho bệnh nhân có sẵn các bệnh như hen suyễn, loét dạ dày, đau thắt ngực, …

Tác dụng không mong muốn của NSAID dùng ngoài thường liên quan đến da như viêm da, ngứa hoặc nhạy cảm ánh sáng, cá NSAID đường uống có thể gây các phản ứng có hại trên tiêu hóa như dạy dày, gan, thận, …

6.2.2. Paracetamol

Paracetamol có thể bắt đầu cho bệnh nhân có mức độ đau từ nhẹ cho đến vừa hoặc không dung nạp NSAID; dù tác dụng giảm đau không mạnh bằng NSAID. Paracetamol nên sử dụng khi cần (hoặc chia liều cố định trong ngày); liều tối đa khuyến cáo không quá 4 gam mỗi ngày, mỗi liều không quá 1 gam.

Tuy là một trong những thuốc giảm đau an toàn nhất nhưng cũng không thiếu những trường hợp được ghi nhận ngộ độc do sử dụng quá liều paracetamol. Dùng quá liều paracetamol là một trong những nguyên nhân phổ biến gây suy gan cấp tính.

6.2.3. Tramadol và thuốc giảm đau nhóm opioid

Tramadol có tác dụng giảm đau trong thoái hóa khớp là lựa chọn phù hợp với bệnh nhân bị chống chỉ định NSAID hoặc không đáp ứng với thuốc giảm đau trước đó. Bác sĩ cũng có thể cho bạn sử dụng kết hợp tramadol với NSAID hoặc paracetamol nhằm tăng tác dụng giảm đau. Một số tác dụng không mong muốn có thể gặp phải như hoa mắt, chóng mặt, táo bón và mệt mỏi.

Thuốc nhóm opioid có thể giảm đau tương đối hiệu quả; cải thiện giấc ngủ và cải thiện chức năng ở bệnh nhân tình trạng này không đáp ứng với các điều trị khác. Tuy nhiên thuốc nhóm opioid làm tăng nguy cơ gây nghiện và các phản ứng phụ có hại khác như táo bón, buồn nôn, buồn ngủ và ức chế hô hấp.

6.2.4. Kem capsacin

Kem capsacin có tác dụng giảm dẫn truyền cảm giác đau. Capsacin không hiêu quả trong cơn đau cấp tính vì thuốc cần sử dụng liên tục và có hiệu quả điều trị sau một thời gian sử dụng.

Capsacin được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối. Cần cẩn thận khi sử dụng và không thoa kem ở những vùng da mỏng manh như mắt, mũi, miệng, … Capsacin làm từ ớt vì vậy sẽ gây cảm giác nóng rát trên vùng da nhạy cảm; cần rửa tay kĩ sau khi bôi thuốc nhằm tránh kích ứng các vùng da khác.

6.2.5. Các thuốc tiêm vào khớp

Thuốc được sử dụng tiêm vào khớp phổ biến hiện nay là corticoid; có hiệu quả ngắn hạn trên khớp gối và khớp hông; đặc biệt trên những bệnh nhân bị viêm khớp nặng hoặc tràn dịch khớp. Sau khi tiêm, tác dụng giảm đau có thể kéo dài vài ngày tới vài tuần. Không nên tiêm corticoid thường xuyên (nhiều hơn 3-5 lần mỗi năm) nhằm tránh phá hủy sụn khớp.

6.3. Phẫu thuật

Phẫu thuật trong điều trị bệnh này chỉ cần thiết khi tất cả các phương pháp điều trị khác không hiệu quả hoặc khi khớp của bạn bị tổn thương nghiêm trọng. Có một số loại phẫu thuật khác nhau trong thoái hóa khớp như: thay khớp, nối khớp, cắt xương.

7. Phòng ngừa thoái hóa khớp như thế nào?

Không thể ngăn ngừa tình trạng này hoàn toàn nhưng chúng ta có thể giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh bằng cách tránh các chấn thương và có một lối sống lành mạnh.

7.1. Tập thể dục

Dù bạn đã mắc bệnh hay chưa, tập thể dục luôn luôn là một phương pháp phòng bệnh hiệu quả không chỉ riêng với thoái hóa khớp. Hãy tập thể dục sớm nhất có thể và duy trì nó một cách thường xuyên, điều độ đến cuối đời.

Các bài tập tăng cường sức mạnh, sức bền hay các bài tập giữ thăng bằng đều có lợi với tất cả mọi người. Nên kết hợp các bài tập và có một thời gian biểu tập luyện một các điều độ; tránh những trường hợp tập luyện quá sức; tập sai cách gây ra những tác hại không mong muốn. Một số bài tập có lợi cho khớp nói chung; cho bệnh thoái hóa khớ nói riêng như: đi bộ, bơi lội, yoga, aerobic, thái cực quyền, dưỡng sinh, …

7.2. Kiểm soát cân nặng

Béo phì không chỉ tăng nguy cơ thoái hóa khớp mà nó còn là yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch, đường huyết khác. Nên kết hợp ăn uống lành mạnh và tập thể dục để duy trì cân nặng hợp lí.

7.3. Kiểm soát lượng đường trong máu

Có rất nhiều người bị đái tháo đường kèm theo thoái hóa khớp; lượng đường trong máu cao có thể làm sụn trở nên cứng hơn và dễ bị gãy hơn.

7.4. Bảo vệ khớp để tránh tình trạng thoái hóa khớp

Trước khi tập luyện hay chơi thể thao, đảm bảo bạn đã khởi động đủ kĩ; có thể sử dụng các dụng cụ bảo vệ khớp khi chơi thể thao như các loại băng gối, băng cổ tay, … Ngủ đủ giấc sẽ giúp tinh thần tỉnh táo và hạn chế bị tai nạn khi tham gia giao thông cũng như mất thăng bằng ki di chuyển.

7.5. Dinh dưỡng

Dinh dưỡng là điều không thể thiếu đối với việc phòng ngừa hầu hết cá bệnh; chúng ta cần ăn uống lành mạnh, không hút thuốc; bổ sung các chất dinh dưỡng cho lợi cho xương khớp (vitamin D, vitamin C, vitamin A, calci, …) một cách vừa đủ.

Thoái hóa khớp nếu không được điều trị, theo thời gian sẽ trở nên tồi tệ hơn. Mặc dù trường hợp tử vong do thoái hóa khớp không nhiều; nhưng tàn tật do thoái hóa khớp lại vô cùng phổ biến ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ.

Điều quan trọng là bạn cần chú ý đến sức khỏe của bản thân và những người trong gia đình của mình. Nên có những đợt thăm khám định kì để sớm phát hiện bệnh, điều trị theo đúng liệu trình của bác sĩ khi đã mắc bệnh. Thay đổi lối sống, thuốc giảm đau hay phẫu thuật khớp có thể giúp bạn. Dù điều trị theo phương pháp nào, việc làm giảm các triệu chứng viêm khớp sẽ cải thiện khả năng đi lại và chất lượng sống của bạn.

0/5 (0 Reviews)
Thoái hóa khớp: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chuyển lên trên